Hình thức Sonate

Ảnh của luongminhtan

          Hình thức Sonate có thể coi là một dạng cấu trúc phức tạp nhất có quy mô lớn nhất, cấu trúc ấy được xây dựng trên sự tương phản của những chủ đề đã được trình bày theo một tiến trình nhất định. Nó chứa đựng nhiều nhân tố hình thành trên cơ sở đối chiếu tương phản các hình tượng âm nhạc, các ý nhạc khác nhau tạo nên những mối xung đột căng thẳng và kịch tính. Là hình thức âm nhạc có quy mô lớn, phản ánh được nhiều nội dung phong phú và sâu sắc. Với hình thức âm nhạc này, các thế hệ nhạc sĩ đã thể hiện được nhiều nội dung phong phú, từ những tình cảm riêng tư sâu lắng nhất của con người cho đến những sự kiện vĩ đại, những biến động lớn lao trong lịch sử xã hội. Với những ưu điểm nổi bật đó, hình thức sonate thường chiếm ưu thế ở các chương đầu hay đôi khi ở các chương khác trong liên khúc sonate, tam tấu, tứ tấu, giao hưởng hoặc trong các khúc mở màn uverture. Ngoài ra, nó còn được sử dụng trong các tác phẩm một chương độc lập như Fantasie, Caprice…

           Danh từ “sonate” được xuất hiện vào đầu thế kỷ XVII trong sự nghiệp sáng tác của các nhạc sỹ Ý, là tên gọi cho các khúc khí nhạc nhỏ. Nhạc sĩ đã có những công sức đóng góp cho việc đặt nền móng cho sự hình thành của hình thức sonate Allegro là nhạc sĩ Domenico Xcalatti người Ý (1685 - 1757). Ông đã viết hơn 500 bản sonata cho Clavexanh, các tác phẩm này là cơ sở hình thành cấu trúc của hình thức sonate cổ điển sau này. Trong sáng tác của Philip Emanuen Bach (1714 - 1788), đó là một liên khúc 3 chương, mỗi chương độc lập về cấu trúc. Những bản sonata của ông rất đa dạng, có chiều sâu và những tìm tòi về ngôn ngữ của ông đáng để cho các nhạc sĩ thế hệ sau noi theo. Tiếp theo là các nhạc sĩ thuộc trường phái cổ điển Viên như Haydn (1732 - 1809). Mozart và Beetthoven đã hoàn thiện thể loại này. Các sonate piano của Haydn và Mozart là những đóng góp lớn cho nền âm nhạc cổ điển. Người đưa sonate trở thành mẫu mực là Beetthoven, ông được coi là người đã hoàn thiện hình thức sonate cổ điển.

Đặc điểm cấu trúc hình thức sonate

* Phần trình bày:

- Chủ đề chính: (chủ đề 1) đóng một vai trò quan trọng trong việc xây dựng thành công một tác phẩm âm nhạc, vì chủ đề thể hiện tư tưởng chính của toàn bộ tác phẩm nên thường biểu hiện rõ tính thống nhất về âm điệu, tiết tấu và rõ ràng về cấu trúc.

-  Nối tiếp: Trong hình thức sonate cổ điển, nối tiếp thường trải qua 3 giai đoạn:

+ Giai đoạn đầu nằm trong ảnh hưởng của chủ đề chính, ở giai đoạn này chất liệu chủ đề có thể được nhắc lại và có sự thay đổi nhỏ.

+ Giai đoạn thứ hai thoát khỏi ảnh hưởng của chủ đề chính bằng những phương pháp phát triển như: ly điệu, chuyển điệu, biến đổi và xé lẻ chất liệu.

+ Giai đoạn thứ ba là sự chuẩn bị cho chủ đề 2 xuất hiện. ở giai đoạn này thường thấy âm nền trì tục trên át của điệu tính mới.

- Chủ đề phụ: (chủ đề 2) Trong phần trình bày của hình thức sonate, chủ đề phụ xuất hiện là tạo sự tương phản cơ bản của hình tượng chủ đề, chủ đề phụ gây ra bước nhảy về chất lượng trong sự phát triển của phần trình bày, sự căng thẳng và không ổn định của nối tiếp tìm thấy điểm tựa ở chủ đề hai, tạo sự cân bằng cho phần trình bày.

Với chức năng và tính chất như trên, chủ đề phụ thường được xây dựng bằng hình thức đoạn nhạc không phân câu, hoặc đoạn nhạc phát triển, mở rộng.

- Kết của phần trình bày: Trong hình thức sonate cổ điển, phần kết này thường giữ chức năng tóm tắt, khái quát các hình tượng, các chất liệu cơ bản đã có trong phần trình bày, đồng thời tạo ra sự cân bằng cho hình thức âm nhạc.

* Phần phát triển: Đây là phần giữa và là phần trung tâm của hình thức sonate, ở đây chứa đựng mọi sự biến đổi căng thẳng của các chất liệu chủ đề trong phần trình bày. Vì vậy, phần phát triển có đặc điểm là không ổn định, chất liệu có thể phát triển các chủ đề của phần trình bày hoặc là chất liệu mới. Phần phát triển không hình thành hình thức nhưng vẫn có cấu trúc riêng, được chia thành các giai đoạn của sự phát triển.

- Giai đoạn 1: mức độ căng thẳng còn thấp, chủ đề biến đổi chưa nhiều, ít có sự tương phản.

- Giai đoạn 2: là trung tâm của phần phát triển diễn ra những biến đổi sâu sắc nhất của chất liệu chủ đề, tập trung nhiều thủ pháp hoà âm, phức điệu như: mô phỏng, mô tiến, xé lẻ chất liệu, chuyển điệu (xa, gần)…

- Giai đoạn 3: là giai đoạn chuẩn bị cho phần tái hiện, thường xuất hiện âm trì tục trên át của giọng chính, có thể xuất hiện chủ đề mới (đoạn epidot), hình thành hình thức và ổn định điệu tính.

* Phần tái hiện: Là sự trở lại điệu tính chính, tạo nên tính thống nhất cho hình thức âm nhạc về chủ đề và điệu tính, là sự thống nhất giữa hai chủ đề.  Nó là giai đoạn hoàn thiện và đem đến sự cân bằng khẳng định những đường nét hình tượng chính của nội dung. Có những dạng sau:

- Tái hiện theo trình tự như phần trình bày, chỉ thay đổi về hoà âm ở phần nối.

- Tái hiện ngược: chủ đề 2 tái hiện trước chủ đề 1 và thống nhất ở cùng điệu tính.

- Tái hiện rút gọn: bớt đi một phần nào đó của phần trình bày, thông thường là bớt đi 1 chủ đề.

- Tái hiện giả: là một phần mang đặc điểm của tái hiện như sự trỏ lại đường nét chất liệu chủ đề nhưng ở điệu tính phụ, thường ở cuối giai đoạn 2 của phần phát triển.

             (còn nữa)

Viết bình luận

Plain text

  • Không được dùng mã HTML.
  • Các địa chỉ web và email sẽ tự động được chuyển sang dạng liên kết.
  • Tự động ngắt dòng và đoạn văn.

Filtered HTML

  • Các địa chỉ web và email sẽ tự động được chuyển sang dạng liên kết.